Vĩnh biệt người chăn trâu vĩ đại

Vĩnh biệt người chăn trâu vĩ đại

Một chùm bài viết về Ông Hồ Giáo từ báo Thanh Niên, cũng lâu rồi, nhưng mình đăng lại để vĩnh biệt người chăn trâu vĩ đại, người được phong anh hùng nhưng sống một cuộc đời trầm lặng, “người mà nếu có thiên đường hay cõi niết bàn thì chắc chắn ông sẽ lên trên đó. Người như ông, không lên đó thì không biết nơi đó dành cho ai” – Hình Như Là – 4dummies.info

(TNO – Hoàng Hải Vân) Ông Hồ Giáo đã đi vào cõi vĩnh hằng. Ông không theo đạo nào, nhưng nếu có thiên đường, nếu có niết bàn hay cõi tiên thì chắc chắn ông sẽ lên trên đó. Người như ông, không lên đó thì không biết nơi đó dành cho ai.

Ông Hồ Giáo, người chăn trâu vĩ đại - Ảnh: Trần ĐăngÔng Hồ Giáo, người chăn trâu vĩ đại – Ảnh: Trần Đăng
Hồi nhỏ đọc thơ Tố Hữu tôi ngưỡng mộ anh Hồ Giáo. Sau khi gặp ông, viết bài về ông, tôi càng ngưỡng mộ ông Hồ Giáo hơn. Sự ngưỡng mộ sau không giống như sự ngưỡng mộ trước, nhưng nó khác nhau như thế nào tôi không lý giải được. Thỉnh thoảng tôi cứ nghĩ về ông, nghĩ miên man mà không biết mình nghĩ gì.
Trong kinh sách Thiền tông có “Thập ngưu đồ” (Mười bức tranh con trâu), một tác phẩm vô cùng độc đáo. Dưới mỗi bức tranh có những bài kệ của các thiền sư cao tăng. Đọc “Thập ngưu đồ” ta có thể chiêm nghiệm những điều sâu xa vi diệu của Thiền. Ở Trung Quốc xưa đã có những dòng thiền lấy chính cái chuồng trâu làm Thiền viện, nhiều vị thiền sư từ cái chuồng trâu mà thấy được Phật.
Mỗi lần nghĩ đến ông Hồ Giáo tôi lại đọc “Thập ngưu đồ”. Mỗi lần đọc “Thập ngưu đồ” tôi lại nghĩ đến ông Hồ Giáo. Cuộc đời ông gắn với những con trâu. Đến những năm tháng cuối đời, hàng ngày ông vẫn đi về với chúng, cho đến khi không còn lê bước đi được nữa. Ông Hồ Giáo không đọc kinh niệm Phật, và có lẽ cũng không suy tư dằn vặt về lẽ sống chết của cuộc đời. Nhưng tự nhiên tôi nghĩ ông là một vị bồ tát. Tại sao không nhỉ!
Vĩnh biệt người chăn trâu vĩ đại - ảnh 2
Người anh hùng giữa cỏ  – Ảnh: Trần Đăng
Nhiều người đã viết về ông Hồ Giáo, tôi cũng đã viết về ông. Gặp ông Hồ Giáo tôi mới biết ông hoàn toàn không phải là sản phẩm của “công tác tuyên truyền giáo dục”, dù trước đây thông qua công tác này người ta mới biết về ông. Ông là người chăn trâu vĩ đại, nhưng là hình tượng không thể, không nên và không cần phổ cập. Bây giờ ông mất đi rồi, tôi nghiệm lại người như ông chỉ có thi ca may ra có thể mon men đến gần, còn văn xuôi thì không thâm nhập được.
Cuộc đời ông Hồ Giáo trong veo không danh không lợi, không vướng “bụi trần”. Ông không coi mình là “đài gương sáng” nên “bụi trần” không thể bám được vào ông.
Phật bảo phá hết chấp thì thành Phật. Còn ông Hồ Giáo thì sống hồn nhiên với những con trâu, ông không cần “phá chấp”, ông tự nhiên là không chấp.
Mỗi lần nghĩ đến ông Hồ Giáo tôi thấy bình an.

Chiêm ngưỡng anh Hồ Giáo

Báo chí đã viết nhiều về Hồ Giáo, đã có truyện về Hồ Giáo, có thơ về Hồ Giáo, có bài hát về Hồ Giáo. Nhưng mấy chục năm nay Hồ Giáo vẫn là một đơn nhất, không lặp lại. Kỳ 1: “Hỏi anh: có thú vui gì…

Tôi đến trại trâu Mura của ông Hồ Giáo vào ngày 23 tháng 10 âm lịch – cái ngày gắn với câu ca của bà con xứ Quảng: “Ông tha bà chẳng tha/Làm ra cái lụt hăm ba tháng mười”. Kinh nghiệm dân gian quá chính xác. Ngày này mà không có lụt lớn thì là ngày cuối cùng của mùa mưa bão.

Quảng Ngãi bắt đầu tạnh, trời chỉ còn mưa lất phất. Trại trâu “đóng” tại xã Hành Thuận (huyện Nghĩa Thành), cách thành phố Quảng Ngãi khoảng 6 km. Nghe nói hằng ngày ông Hồ Giáo sáng đến chiều về, đi bộ một quãng đường 12 km. Nói là trại nhưng không rào giậu, là một dãy nhà cũ lợp ngói, bên trong là một hàng chuồng phần lớn trống không, chỉ 4 ngăn có 4 con trâu to vạm vỡ, đen mướt. Không một bóng người. “Ông ấy đi cắt cỏ ngoài kia kìa, các anh đi vòng qua phía sau thì gặp”, một thanh niên đi ngang qua chỉ chúng tôi.

“Ở Quảng Ngãi này ai cũng biết ông Hồ Giáo là người chăn bò hai lần được phong anh hùng, ai cũng biết giờ ông đã sắp 80 tuổi rồi mà vẫn còn chăn trâu. Hằng ngày ông vẫn đi từ thị xã đến trại trâu, ai đi qua đều nhìn thấy. Nhưng người ta chỉ biết vậy thôi. Hồ Giáo vẫn là một bí mật, ngay cả đối với người Quảng Ngãi”, nhà thơ Thanh Thảo nói đầy ẩn ý trước khi nhờ một anh bạn đưa tôi đến đây. Tôi hiểu ý ông Thanh Thảo. Báo chí đã viết nhiều về Hồ Giáo, đã có truyện về Hồ Giáo, có thơ về Hồ Giáo, có bài hát về Hồ Giáo. Nhưng mấy chục năm nay Hồ Giáo vẫn là một đơn nhất, không lặp lại. Phải nhìn ở một góc khác mới hiểu được người chăn bò siêu phàm này.

Tôi không hiểu vì lý do gì mà có đến mấy thế hệ học trò cứ nhầm lẫn Hồ Giáo là nguyên mẫu của nhân vật Nhẫn trong truyện Cỏ non của nhà văn Hồ Phương. Truyện Cỏ non tôi không rõ được đưa vào sách giáo khoa năm nào, nhưng nó được giải thưởng của Báo Văn Nghệ năm 1959, năm đó ông Hồ Giáo còn là anh bộ đội, chưa về nông trường Ba Vì để đi chăn bò. Giáo viên nhầm lẫn, học sinh nhầm lẫn, thậm chí nhiều nhà báo viết về ông Hồ Giáo, đã gặp người thật việc thật, mà cứ nghĩ mình vừa gặp nguyên mẫu của Cỏ non. Cho đến gần đây ông Hồ Phương mới cải chính (xem Nhà văn Hồ Phương: Đừng nhầm nhân vật trong Cỏ non với anh Hồ Giáo! đăng trên website Báo VH-TT ngày 12.6.2008). Sự nhầm lẫn như vậy không có hại gì, nó chỉ khiến cho người ta nghĩ về ông Hồ Giáo không giống như ông Hồ Giáo thật.Giữa đám cỏ voi cao quá đầu, Hồ Giáo đang mặc áo mưa lom khom cắt, lom khom bó cỏ thành từng bó, sắp vào chiếc xe cút kít. Thấy khách đến ông không ngạc nhiên, không khó chịu, không vui mừng, cũng không hỏi gặp ông có việc gì. Nghe lời chào, ông ngước mặt lên mỉm cười, rồi tiếp tục lom khom cắt cỏ.

Tôi hiểu thông điệp của ông là: lúc này không có chuyện gì quan trọng hơn cắt cỏ.

Hỏi anh: có thú vui gì ?
Anh cười: vui thú đời đi chăn bò…

Nghĩ đến Hồ Giáo ai cũng nhớ hai câu thơ đó. Ông Tố Hữu viết bài thơ Gặp anh Hồ Giáo hồi trước là để cổ vũ tinh thần lao động xã hội chủ nghĩa, nhưng ông Thanh Thảo bảo hai câu thơ trên đây có lẽ là hai câu thật nhất về Hồ Giáo.

Ông vừa cắt cỏ vừa nói chuyện với chúng tôi. Tôi hỏi ông vì sao sau khi tập kết ông lại đến Ba Vì đi chăn bò, ông chậm rãi: “Tập kết ra Bắc tôi vẫn là bộ đội, ở Sư đoàn 350 bảo vệ thủ đô. Đến năm 1960 theo lời kêu gọi của Bác Hồ giảm 8 vạn quân, ai ở miền Bắc thì về nhà, ai ở miền Nam ra thì được chuyển ngành, ưng đi đâu thì đi. Tôi nghĩ mình bộ đội cũng là nông dân, làm nghề nông là chắc chắn nhất. Làm việc khác tôi không thích, như ngành xây dựng xây xong công trình rồi đi mất, mình không ở lại với cái mình làm ra. Nghĩ thế nên tôi tình nguyện đi Ba Vì làm chăn nuôi luôn. Về đó nuôi heo 5 năm, sau nông trường có bò tôi được điều qua nuôi bò sữa, nuôi bò sữa miết đến năm 1976 chuyển về Sông Bé nuôi trâu sữa, nuôi trâu sữa miết đến năm 1991 thì về hưu…”. Tự thấy đã đáp ứng đủ yêu cầu của khách, ông dừng lại không nói nữa.

“Bác có thành tích gì ở Ba Vì mà được phong anh hùng?”, tôi hỏi tiếp, một câu hỏi hơi vô duyên. Ông nói: “Phong anh hùng là cho cả nuôi bò lẫn nuôi heo. Trình độ chăn nuôi của mình hồi đó chưa như bây giờ. Có cái phức tạp người khác không làm được nhưng tôi làm được. Ví dụ bò sinh khó, heo bị bịnh, bê bị bịnh, thuốc tây chữa khó hết, còn tôi thì chữa hết”. “Bác học ở đâu mà biết chữa?”. “Hồi nhỏ ở quê đã biết một ít, ra đây học bà con xung quanh. Đầu tiên là từ chuyện thụ tinh nhân tạo cho heo, anh em học năm sáu tháng về làm không có kết quả.

Tôi chỉ đi theo phụ việc, coi họ làm rồi làm có kết quả luôn. Biết nông trường phối tinh lợn được, dân nhờ giúp. Tôi xuống giúp, cũng có kết quả. Giúp họ rồi mình hỏi họ kinh nghiệm. Ví dụ như lợn đi tả, phân trắng, phải chữa như thế nào, bà con chỉ tôi vào rừng, xuống dưới khe suối có một thứ lá như lá gừng, nhổ về phơi khô nấu nước; bò, bê, nghé, trâu, heo bị đi tả đổ vào cho uống là hết bịnh ngay. Cả con người bị bịnh, uống cũng hết. Tôi hái rất nhiều lá đó về phơi khô để dành cho nông trường…”.

Tôi không cần phải nói lại những thành tích và niềm say mê lạ lùng của Hồ Giáo đối với nghề chăn nuôi. Sách báo đã tốn nhiều giấy mực. Nhưng từ miệng ông nói ra thì đại để là như vậy. Ông chỉ biết làm, không biết nói những lời hoa mỹ.
Hình như chuyện gì ông vụng về thì ông nhớ rất kỹ. Ông bảo cuộc đời ông khó nhất là đi học. Sau khi trở thành anh hùng lần thứ nhất, ông học mãi vẫn không qua khỏi lớp hai. “Ở nông trường mỗi tuần tôi học 3 buổi tối, thứ hai thứ tư thứ sáu, nhiều khi có mấy chữ mà học ba bốn ngày không thuộc. Bộ Nông trường cho tôi xuống Bắc Ninh học. Đi đợt đó có 3 người chưa hết lớp hai, là tôi, một ông ở Cà Mau, một ông người Lào. Ông Bí thư trường bổ túc nói: trường này tối thiểu phải xong lớp bốn mới nhận, riêng ba anh thuộc diện đặc biệt không xong lớp nào hết. Phải ở lại đây học cho đến bao giờ đỗ cấp 2 mới được về.

Học khó quá anh ơi, một bài toán chia 2 con số mà ba đứa tôi ướt hết cả áo vẫn không chia được. Nhưng tôi quyết tâm học, học cho xong để về. Học ngày học đêm, mười tháng tôi dớt (*) luôn cái bằng cấp hai. Lớp có 43 người chỉ một mình tôi đậu. Hai ông kia phải vào Đồng Dao học tiếp”. Xếp bó cỏ vào xe cút kít, ông cười nói thêm: “Tôi cũng gặp may. Ba bốn ngày trước khi thi tôi tập trung ôn bài, hôm đó đề thi ra đúng phần tôi học kỹ, bây giờ gọi là trúng tủ đó”. “Môn toán tôi dở chứ môn văn tôi điểm mười”, ông lại cười tươi như hoa.Rồi ông hứng thú kể tiếp: “Sau khi hoàn thành việc học, ông Bí thư gọi tôi bảo: Chuyến này anh về chắc chắn sẽ đi xa.

Tôi hoảng quá. Đi học tiếp thì tôi sợ quá, chuyển đi làm việc khác chắc tôi không làm được. Tôi chỉ biết nuôi bò nuôi heo thôi, nên rất lo. Hỏi ổng tôi sẽ đi đâu thì ổng nói: Xuống Hải Phòng. Hỏi xuống Hải Phòng để làm chi thì ổng bảo: Để nhận bò. Trời đất ơi, vậy mà ổng làm tôi lo quýnh lên. Đó là đợt bò sữa đầu tiên do Cuba viện trợ, tôi xuống cảng Hải Phòng nhận đưa thẳng về Ba Vì. Ông bí thư này trước là thiếu tá quân đội chuyển ngành về đây. Ổng là đồng hương Quảng Ngãi của tôi, vui tính lắm”.

Sắp xong 12 bó cỏ vào xe, trời dứt mưa hẳn. Ông đứng thẳng cởi áo mưa, tôi thấy rõ lưng ông đã còng. Ông đã quá già. 79 tuổi ít người lưng còn thẳng. Chúng tôi nói để chúng tôi kéo xe giúp, ông bảo: “Các anh kéo không nổi đâu. Tránh ra cho tôi lấy trớn”.

Mục đích phát triển đàn trâu Mura là sức kéo và sữa. Nhưng đồng ruộng bây giờ đã dùng máy, rất ít nơi cày bằng trâu, nên trâu dù hay đến bao nhiêu cũng đâu có ai cần đến nữa. Sữa trâu Mura, từ Sông Bé đến Quảng Ngãi, vắt ra đem cho các cháu nhà trẻ mẫu giáo ở làng quê, điều này là rất tốt rất nhân văn, nhưng chỉ như vậy thôi, sữa trâu không ai mua.

Kỳ 2: Lý luận về trâu Mura

Ông Hồ Giáo kéo xe cỏ vào trại, xếp từng bó vào cái kho đối diện với 4 ngăn chuồng có trâu. Bốn con trâu chồm lên phía trước khịt mũi mừng rỡ. “Đây là con Tây Trà mười tuổi, đây là con Trà Câu cũng mười tuổi, còn kia là con Cà Đam hai tuổi, con ở ngăn cuối cùng là Núi Tròn một tuổi”, ông Hồ Giáo mở bó cỏ cầm một nắm đưa vào miệng con Tây Trà rồi trân trọng giới thiệu tên từng con với khách. Ông lấy tên của các địa danh Quảng Ngãi để đặt cho những con trâu của mình.

Tôi hỏi ông hồi ở Ba Vì ông có đặt tên cho những con bò hay không, ông bảo bò Ba Vì không có tên mà chỉ gọi theo số. Việc đặt tên là đặt từ lứa trâu Mura đầu tiên đến Sông Bé. Ông kể: “Sau giải phóng, Ấn Độ tặng Việt Nam 502 con trâu, trong đó có 2 con Thủ tướng Ấn Độ tặng riêng cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ba chuyến máy bay chở đàn trâu xuống sân bay Tân Sơn Nhất năm 1977. Từ đó tôi chuyển qua nuôi trâu”.

“Ở Sông Bé bác giữ chức vụ gì?”, tôi lại hỏi một câu vô duyên. “Không. Tôi chỉ nuôi trâu thôi. Hồi ở Ba Vì tôi nuôi bò, làm đội trưởng đội 1, lãnh đạo bảo tôi làm phó giám đốc, nhưng tôi không làm được, tôi nói với mấy ổng: tôi lớn tuổi, trình độ không có, để người trẻ có trình độ làm. Về Sông Bé cũng bảo tôi làm phó giám đốc, tôi cũng không nhận. Trước khi về đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gọi tôi lên, có ông Viện trưởng Viện Chăn nuôi nữa. Tôi nói: đưa tôi vào làm chăn nuôi trực tiếp thì tôi làm, làm quản lý thì không”. Ông bảo ở Ba Vì thời ông làm có 1.200 công nhân nhưng chỉ có 8 kỹ sư, còn ở Sông Bé công nhân có 330 người, có 30 kỹ sư. “Ở Sông Bé vắt sữa trâu mệt hơn, ở Ba Vì vắt sữa bò nhẹ hơn, nhưng bò có con trái nết nếu không khéo bị nó đá. Tính chung lại thì hai bên như nhau”.

Đưa đàn trâu Mura về Sông Bé lúc ấy mục đích là phát triển nhân giống cho dân làm sức kéo và xây dựng một cơ sở làm sữa trâu, đáp ứng nhu cầu sữa cho nhân dân, vì lãnh đạo nghĩ sữa trâu rất tốt. Ông Hồ Giáo lại đem hết tài nghệ để chăm lo cho đàn trâu. Các chuyên gia Ấn Độ hồi ấy đã kinh ngạc khi chứng kiến từng con trâu do ông Hồ Giáo chăm sóc tự bước lên bàn cân để kiểm tra trọng lượng khi được gọi tên. Tại đây, ông được phong anh hùng lao động lần thứ hai (1986).

“Đàn trâu nhân ra nhanh, nhân dân nuôi rất nhiều, có ông nuôi tới 100 con, đến lúc tôi nghỉ hưu Sông Bé có 1.404 con”. Ngừng một lát, ông buồn rầu: “Nhưng bây giờ chỉ còn 40 con thôi”. Nghĩ đến trâu, ông tiếc nuối, cũng như bây giờ đây ông tiếc nuối cho cái trại trâu Hành Thuận này. Điều quan trọng nhất khiến cho đàn trâu không phát triển mà ông Hồ Giáo không hiểu được: thị trường!

Lấy tiếp nắm cỏ cho con Núi Tròn ăn, ông Hồ Giáo kể tiếp: “Năm 1990 tôi đến tuổi hưu. Đầu tiên tôi định ở lại thành phố (TP.HCM), một số anh bảo đừng về Quảng Ngãi làm chi cho cực, ở lại đây làm, lương tháng 800 ngàn”. “Họ muốn bác làm gì?”. “Cũng nuôi bò sữa. Nhưng ông Phạm Văn Đồng nghe tôi về hưu gọi ra. Ổng đưa 15 con trâu Mura về Quảng Ngãi, bảo tôi về nuôi đàn trâu, là cái trại này đây”. Ông lại hào hứng: “Cái trại này lúc nhiều nhất là 20 con. Nhưng từ 15 con đầu tiên nhân ra nhiều lắm. Đẻ bao nhiêu phân cho các huyện, Nghĩa Hành bao nhiêu, Tư Nghĩa bao nhiêu… Huyện giao trâu về xã, xã giao xuống cho dân. Sông Bé trước đây cũng vậy. Xã chọn người để giao, không bán. Yêu cầu là, trâu nuôi lớn rồi phải lai tạo với trâu mình, một trâu đực phải phối cho ra 15 trâu con, một trâu cái phải đẻ 2 con. Làm được như vậy thì tất cả trâu mẹ trâu con là của anh, cho anh hết, Nhà nước không thu tiền, cũng không lấy lại trâu”.

Ông nắm rất chắc những ưu điểm nhược điểm của trâu Mura so với trâu ta. Ông nói: “Lúc đầu nhiều ông già bà già chê trâu Mura: chóp đuôi có chòm lông trắng, trán cũng có chòm lông trắng. Ông bà ta coi trâu trước hết là coi xoáy, nhưng xoáy của trâu này lung tung không giống trâu ta. Còn mắt thì trâu này có con hai con mắt đều đen hết, có con mắt phải đen mắt trái trắng, bà con nói trâu này mù. Giải thích cho họ khó lắm. Tôi nói: bác đứng đó tôi đem nắm cỏ cho nó ăn xem nó có thấy không. Nó thấy và ăn hết. Giải thích mãi mấy ổng mới chịu”.

Ông giải thích cho dân và chứng minh trong thực tế là trâu Mura rất nhiều ưu điểm: “Trâu Mura đuôi dài, ăn khỏe. Cỏ, rơm rạ, đọt mía non, bột mì (sắn), bắp, đậu tương… thứ gì cũng ăn tuốt. Trâu này kéo cày rất tuyệt, mỗi ngày cày được 3-4 sào trong khi trâu mình chỉ cày 2 sào là cùng, thêm cái hay nữa là nó đi tới đầu bờ thì đứng lại, khác với trâu ta. Hồi xưa có ông mới nuôi đem ra cày, thấy hay dân xúm lại xem đông quá chừng. Còn kéo xe thì nó nhất, 2 con kéo bằng một chiếc công nông, xe công nông sa lầy không lên được, còn nó thì lên như không”.

Tôi hỏi: “Nó nhiều ưu điểm vậy tại sao không phát triển được?”. Ông đáp: “Do trên. Do mấy ổng không tính toán. Cuba mỗi người dân có một con bò sữa, còn mình thì mấy ông cán bộ cả đời không đến trại chăn nuôi”.

Như đã nói, ông Hồ Giáo không kịp hiểu thị trường, ông cũng không hiểu mấy những chuyện bên ngoài trại trâu. Mục đích phát triển đàn trâu Mura là sức kéo và sữa. Nhưng đồng ruộng bây giờ đã dùng máy, rất ít nơi cày bằng trâu, nên trâu dù hay đến bao nhiêu cũng đâu có ai cần đến nữa. Sữa trâu Mura, từ Sông Bé đến Quảng Ngãi, vắt ra đem cho các cháu nhà trẻ mẫu giáo ở làng quê, điều này là rất tốt rất nhân văn, nhưng chỉ như vậy thôi, sữa trâu không ai mua. Ông Hồ Giáo bảo: “Sữa trâu giá trị cao hơn sữa bò, hàm lượng bơ đến 70 phần trăm trong khi sữa bò 30, 40, nhiều nhất là 50 phần trăm; đạm đến 7 phần trăm, sữa bò cao nhất 5-6 phần trăm. Hồi ở Sông Bé mỗi ngày được cấp một lít sữa trâu, tôi uống hết”. Dù nhiều người biết vậy, báo chí cũng có nói như ông Hồ Giáo, nhưng sữa trâu vẫn khó mà bán được, khó mà thành thương phẩm như sữa bò. Do thói quen, do tập tính. Tôi thầm nghĩ nếu như các nhà khoa học phát hiện trong sữa trâu có những chất rất hay, như chất chống ung thư chẳng hạn, và báo chí tuyên truyền rầm rộ về giá trị của nó, thì liệu sữa trâu có bán được không? Khó nói lắm. Thực tế là thị trường đã đẩy ông Hồ Giáo cùng với đàn trâu thu hẹp còn 4 con vào cảnh đơn chiếc, không ai ngó tới. Chỉ thỉnh thoảng mới có người đến chiêm ngưỡng, ví dụ như tôi đây.

Cho 4 con trâu ăn xong, ông Hồ Giáo bảo: “Thôi, tôi phải đi tắm. Các anh về nhé”. Tôi nói chúng tôi đợi để đưa ông về. Ông vui vẻ đi tắm, rồi đi ngược lên một gian nhà phía trước trại để thay quần áo. Cuối cùng ông xuất hiện, trên đầu đội chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu “Honda” hẳn hoi. Tôi ngạc nhiên hỏi ông đi bộ thì đội mũ bảo hiểm làm gì, ông cười: “Đội để trên đường gặp ai quen đi xe máy thì đi nhờ”. Hằng ngày, ông đi bộ đến trại trâu này từ năm 1991 đến nay, đi 6 km về 6 km, mỗi năm 365 ngày, kể cả chủ nhật, ngày lễ, ngày tết. Cho đến gần đây ông mới có con rể, mỗi tuần ông chỉ đi bộ… 6 ngày, thỉnh thoảng trên đường mới gặp người quen đi xe máy. Con rể ông, anh Huỳnh Ngọc Quang, là kỹ sư làm ở Dung Quất, sáng phải đi rất sớm bằng xe đưa đón công nhân, chiều lại về muộn. Chủ nhật anh mới ở nhà đưa đón bố vợ.

Hồ Giáo chăm sóc trâu bò như bố chăm sóc cho con, nên người ta mới bảo ông yêu thương trâu bò. Điều đó đúng. Nhưng bảo vì ông yêu thương trâu bò mà 79 tuổi rồi vẫn không nghỉ là không chính xác.

Kỳ 3: Cõi riêng

Chúng tôi đưa ông về nhà, trên đường tôi hỏi xin số điện thoại, ông nói: “Nhà có điện thoại nhưng tôi không biết số, tôi có bao giờ gọi cho ai đâu”. Nhà ông Hồ Giáo ở thị xã Quảng Ngãi. Ông sống với vợ là bà Huỳnh Thị Thành, con gái Hồ Thị Tuyết Minh, con rể Huỳnh Ngọc Quang và một cháu ngoại còn bé. Trong nhà không treo bằng anh hùng, không treo huân chương, không treo ảnh ông chụp với các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, ngoài bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh được treo như bao nhà khác. Tôi không hỏi lý do, vì ông là Hồ Giáo, không thể có lý do làm mình làm mẩy nào.

Hỏi nhỏ chuyện riêng, ông tủm tỉm cười: “Năm 1982 tôi mới lấy vợ, khi ấy tôi đã lớn (52 tuổi). Ở Sông Bé đi phép về Quảng Ngãi, thằng cháu con bà chị tôi làm mối cho bà này, bả là bộ đội chuyển ngành làm ở cửa hàng ăn uống thị xã”. Ông thật thà kể tiếp: “12 ngày phép nhưng mất 6 ngày đợi tàu xe, chỉ còn có 6 ngày. Bọc vé tàu trong túi rồi, tôi dự định dành 2 tiếng để gặp, nhưng rủi là lúc đó có khách, nên chỉ còn nửa tiếng, tàu xe lúc đó rất khó khăn, không trễ được”. “Chỉ nửa tiếng bác làm gì mà lấy được vợ?”. “Chỉ chào rồi hỏi thăm cha mẹ có còn không, anh chị em như thế nào… Nói chuyện thế thôi, sau đó tôi phải đi cho kịp tàu.

Vào đó mới viết thư”. “Bác viết thư nói gì ?”. Lại cười: “Thì giới thiệu tôi trước đây ở bộ đội, chuyển ngành làm cái này cái kia, cha mẹ mất hết, còn mấy đứa em… Hoàn cảnh của tôi như thế, nếu cô ưng tôi thì tôi về tổ chức, không ưng thì thôi”. “Cô ấy trả lời như thế nào?”. “Tôi viết ba lá thư. Viết thư đã khó, gửi được thư rồi chờ mãi không thấy gì hết. Mãi rất lâu tôi mới nhận thư trả lời đồng ý. Đồng ý rồi thì làm đám cưới. Cũng may hồi đó đúng kỳ họp Quốc hội (ông Hồ Giáo là đại biểu Quốc hội 3 khóa liền), tôi họp xong mua một túi bánh kẹo từ Hà Nội về đám cưới luôn. Hồi đó đơn giản chứ như bây giờ thì cưới không nổi đâu anh”.

Cưới xong ông lại vào Sông Bé, mỗi năm về phép một lần, mãi đến năm 1991 vợ chồng mới sum họp. Bà Huỳnh Thị Thành năm nay 62 tuổi, người hiền lành thật thà như đếm. Bà bảo hồi đó nhận thư ông bà chỉ viết lại “vài chữ đồng ý” thôi.

Căn nhà cấp bốn rộng khoảng 120 mét vuông gia đình ông Hồ Giáo đang ở không phải do nhà nước cấp cho một lão đồng chí hai lần anh hùng, mà là của vợ chồng ông tự mua, từ tiền lương công nhân mà ông bà tiết kiệm được trong nhiều năm và của một số người giúp đỡ, đầu tiên mua với giá một cây sáu vàng với diện tích là một nửa của nhà bây giờ, sau đó mới tích cóp mở rộng thêm. Ai giúp ông cái gì ông đều nhớ rõ.

Ông kể một công ty Canada (có lẽ là Việt kiều, ông không nói rõ) đọc bài báo ông Huỳnh Dũng Nhân viết về ông, đã giúp ông hai chỉ rưỡi, Viện chăn nuôi cho hai triệu, Bộ Nông nghiệp cho một triệu, Công ty hàng hải Khánh Hòa cho hai triệu rưỡi… Bà Thành nhớ lại: “Khi ở Sông Bé, dành dụm được bao nhiêu ổng đều gửi về cho tôi, khi hai triệu, khi năm trăm, khi hai trăm, khi một trăm ngàn. Ổng nói nếu hồi ở Ba Vì mà dành dụm thì bây giờ chắc giàu rồi, hồi đó tiền lương ăn tiêu còn dư ổng cho người ta hết”. Tôi hiểu “giàu” theo quan niệm của vợ chồng ông Hồ Giáo là hơn bây giờ một chút, chứ lương công nhân dù không ăn tiêu gì cũng có đáng là bao.

Tôi lại tò mò hỏi bà Thành vì sao chính quyền không cấp đất cho anh hùng Hồ Giáo làm nhà, trong khi rất nhiều cán bộ khác thì được cấp, bà Thành nói: “Thật ra là có cấp, nhưng họ chỉ một cái ao rất sâu. Vợ chồng tôi làm gì có tiền mà lấp được cái ao đó nên không nhận. Họ lại chỉ một chỗ khác cạnh nghĩa địa, ở đó sợ quá nhận làm gì”.

Tôi ghi lại chuyện này là cho vui thôi, ông bà không hề có bất cứ thắc mắc nào, tôi cũng không viết ra để đề nghị chính sách. Vả lại trên nguyên tắc đất ao cũng là đất, đất cạnh nghĩa địa cũng là đất, có gì đâu mà thắc mắc. Chỉ là do vợ chồng ông Hồ Giáo không cần thôi.

Vào nhà ông Hồ Giáo tôi lại nhớ câu “tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc” (biết đủ là đủ, đợi cho đủ thì biết bao giờ mới đủ). Ông làm việc ở trại trâu Hành Thuận mỗi tháng được nhà nước trả bảy trăm ngàn đồng, lương hưu của ông bây giờ lên một triệu tám (ông tính tròn hai triệu), lương hưu của bà một triệu tư, lương con rể một triệu tám, lương giáo viên con gái một triệu tư. Ông cho biết ngày tết ông được tặng  “vài cân gạo, vài cân thịt và ba bốn trăm ngàn”.

Thu nhập của ông, ông “kê” chung không tính toán, nhưng cần hiểu rằng công lao động chăn trâu của ông nhà nước chỉ trả bảy trăm ngàn một tháng, là tiền công lao động rẻ mạt nhất trong thị trường lao động hiện nay. Không thể nói là ông “làm thêm”, vì ông làm toàn thời gian, không chỉ toàn thời gian mà còn vượt rất xa cái toàn thời gian ấy. Cũng không thể tính lương hưu một triệu tám và phụ cấp anh hùng ba trăm ngàn của ông vào đây được, đó là khoản tiền không làm gì ông vẫn được hưởng, vì nó là lao động quá khứ của chính ông. Tôi phải nói rõ điều ai cũng biết này vì thấy quá bất nhẫn.

Chừng đó thu nhập cho 5 nhân khẩu. Đối với ông Hồ Giáo như vậy là đủ. Thời gian gần đây ông không xách theo cặp lồng cơm để ăn trưa, mấy anh thanh niên nuôi heo gần đó nấu cơm trưa cho ông ăn, tiền ăn trưa mỗi tháng một trăm ngàn. Tôi hỏi bà Thành đến bao giờ thì vợ chồng con gái bà ra ở riêng, bà nói: “Ở chung như vậy là được rồi, ở riêng lấy tiền đâu mua nhà anh”.

Anh hùng Hồ Giáo, hai lần anh hùng, năm lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, người được Thủ tướng Phạm Văn Đồng thương yêu như con, nhưng chưa bao giờ, đúng hơn là không bao giờ ông “khoe” với ai về điều đó. Mà ông khoe để làm gì kia chứ, ông có ý định nhờ vả ai việc gì đâu. Có lẽ đời ông chỉ có một nguyện vọng riêng, đó là mong cô con gái độc nhất của ông được công tác gần nhà.

Nguyện vọng đó là hoàn toàn chính đáng đối với một người cống hiến trọn vẹn cả cuộc đời cho nhà nước như ông, càng chính đáng hơn khi vợ chồng ông sinh con rồi mà do bận nhiệm vụ nhiều năm sau ông mới được gần con mặc dù đất nước đã hòa bình, nhưng chị Hồ Thị Tuyết Minh con gái ông học sư phạm ra trường “được” ngành giáo dục địa phương đưa lên dạy tận trên vùng xa Sơn Bao.

“Tôi biểu ổng đi xin cho con về dạy gần nhà nhưng ổng không chịu, ổng nói biết có được không mà xin”, bà Thành kể. Ông Thanh Thảo thấy không chịu được, tức khí viết luôn bài lên tiếng trên Báo Thanh Niên, nhưng mãi đến năm ngoái chị Minh mới được điều về thị xã, sau ba năm tít mù trên núi. Nhưng không sao, cuối cùng con gái ông vẫn được về gần nhà.

Tôi hỏi ông có vị lãnh đạo nào đến thăm ông ở trại trâu không, ông bảo không. Điều này thì đúng, cũng không nhất thiết đến thăm ông với 4 con trâu làm gì. Hỏi tết nhất có ai đến thăm ông không, ông bảo không luôn. Điều này ông sai. Vì tôi hỏi vợ ông thì bà nói có, chỉ do ông không biết mà thôi. Ông có ở nhà đâu mà biết. Ông chưa bao giờ ăn tết ở nhà ban ngày, tết nhất ông vẫn ở trại trâu như những ngày thường, lãnh đạo đến thăm nhà làm sao ông biết. Còn vợ ông thì có lẽ thấy chuyện thăm viếng này bình thường thôi nên không nói lại với ông.
Hồ Giáo chăm sóc trâu bò như bố chăm sóc cho con, người ta mới bảo ông yêu thương trâu bò là do vậy.

Điều đó không sai. Nhưng bảo vì ông yêu thương trâu bò mà 79 tuổi rồi vẫn không nghỉ là không chính xác. Hỏi ông có muốn nghỉ không? Ông trả lời: “Không, ở nhà cực quá”. “Ở nhà làm gì mà cực?”.  “Không làm gì nên cực”. Hỏi giờ nếu người ta mang 4 con trâu đó ra Hà Nội (tôi có nghe nói vậy) thì ông có buồn không? Trả lời: “Buồn lắm. Tôi sẽ về quê kiếm một miếng đất để làm. Đất thị xã khó chứ đất ở quê dễ kiếm”. “Làm sao bác có tiền mua được trâu bò mà nuôi?”. “Có trâu bò thì vui hơn, nhưng không có thì tôi làm việc khác, ở không cực lắm, tôi không chịu được”. Bạn đọc nghĩ sao về điều đó? Ông là một người lao động, không lao động ông không sống được, chỉ đơn giản vậy thôi.

Khi tôi viết bài này ông Thanh Thảo gọi điện nói: “Hồ Giáo là tấm kính chiếu yêu. Người chính trực soi vào đó sẽ thấy mình chính trực. Yêu quái đội lốt người mà soi vào đó, sẽ hiện nguyên hình”. Xin mượn lời ông Thanh Thảo để kết thúc ký sự này ở đây.

Quảng Ngãi – TP.HCM, tháng Mười âm lịch 2008

 

Theo Hoàng Hải Vân – Thanh Niên Online

Advertisements

About Hình Như Là

Xin đừng tìm biết rõ chàng ta - Nhân loại xem rằng dễ xấu xa Có đến mà yêu thì hãy đến Xem đầu mây gợn, mắt mây qua.

Posted on 15/10/2015, in 4IDIOTS, Chất chã and tagged . Bookmark the permalink. Bạn nghĩ gì về bài viết này?.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: